X
    Categories: Giáo Dục

Phân tích chi tiết vẻ đẹp hình tượng của người nông dân

Phân tích vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc để thấy Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc đây chính là đỉnh cao trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu về một hình tượng bất hủ – người nông dân nghĩa sĩ. Thông qua đó, ta cũng thấy được tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết của tác giả Nguyễn Đình Chiểu. Nội dung bài viết tại đây của Bankstore sẽ khiến cho bạn tìm hiểu, cảm nhận và phân tích vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Mở bài: Nhắc đến hình tượng người lính trong văn học, ta thường nhớ đến giai đoạn máu lửa của hai cuộc kháng chiến 1930 – 1945, 1945 – 1975. Nhưng ta cũng không thể nào quên hình tượng người lính nông dân trong văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa thành công và đầy xúc động về hình ảnh người nghĩa sĩ hy sinh tất cả để bảo vệ quê nhà tổ quốc. Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc sẽ thấy niềm tự hào cũng như hàm ân thâm thúy của nhân dân ta so với những người dân nghĩa sĩ anh dũng đã nguyện quên mình vì non sông đất nước.

Ngữ Văn lớp 11 – Bài giảng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu | Cô Nguyễn Tuyết Nhung


soạn bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc | văn tế nghĩa sĩ cần giuộc lớp 11 của Nguyễn Đình Chiểu

♦Giáo viên Nguyễn Tuyết Nhung :

► Facbook: https://goo.gl/EhpyBp

► Khóa học của cô:Khóa ngữ văn lớp 11: https://goo.gl/e7SyFq

Các bạn hãy nhanh tay like và subscribe để nhận được đầy đủ bộ tài liệu quan trọng, các video chữa đề và bài tập cụ thể nhất tại: https://goo.gl/e7SyFq

►Website giúp học tốt: http://giuphoctot.vn/

►Fanpage: https://www.facebook.com/giuphoctot.v…

►Hotline: 0965012186

———–¤¤¤¤¤¤¤¤————

‡Nhiều bạn luôn than thở rằng học Văn khó, học Văn dài, học Văn phải học thuộc, học Văn buồn ngủ; bí từ không biết làm thế nào viết văn cho dài, làm thế nào nội dung bài viết chặt chẽ, hấp dẫn và thuyết phục người đọc… Tất cả những khó khăn và thử thách này sẽ hoàn toàn tan biến lúc các em học Văn và sát cánh sáng tạo với cô Nhung. Đến với những bài giảng của cô Nhung, các các bạn sẽ cảm thấy văn học là một thế giới phong phú đa sắc tố giúp người học bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ, cảm nhận được cái hay cái đẹp trong cuộc sống, thẩm thấu được suy nghĩ của người khác và thấu hiểu hơn về chính mình mình. Văn học còn là một nhân học, hướng con người đến Chân – Thiện – Mĩ và còn là một môn công cụ giúp tất cả chúng ta có năng lực ngôn ngữ tốt, trình bày lưu loát và thuyết phục những vấn đề trong cuộc sống sau này. Văn học giúp tất cả chúng ta hiểu chính mình, hiểu người và hiểu cuộc sống hơn.

———–¤¤¤¤¤¤¤¤————

♥Giuphoctot.vn luôn sát cánh cùng bạn! ♥

Tìm hiểu Nguyễn Đình Chiểu và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Những nét chính về tác giả cùng tác phẩm sẽ là những gợi ý giúp ta cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc một cách thâm thúy và cụ thể hơn.

Những nét chính về Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu sinh vào năm 1822 mất năm 1888, tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phụ sau này là Hối Trai. Nguyễn Đình Chiểu là người tài hoa nhưng có một số phận bi thảm. Là người tài năng có nhân cách sáng ngời nhưng con phố hoạn lộ của ông không suôn sẻ.

Năm 1849, khi sắp đi thi thì ông được tin mẹ mất. Ông bỏ thi để về quê chịu tang mẹ. Dọc đường vất vả, thương tiếc mẹ, khóc nhiều sau đó ông bị đau nặng mà dẫn đến hai con mắt bị hỏng. Sau đó, Nguyễn Đình Chiểu về Gia Định vừa học xá, lại vừa bốc thuốc vừa làm thơ. Tuy sống cuộc đời bình thường nhưng ông lại nhận được sự yêu quý tôn trọng của nhân dân.

Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định, dù mù lòa nhưng ông vẫn tham gia bàn mưu kế chống giặc cùng các lãnh tụ nghĩa quân kháng chiến chống Pháp và sáng tác những vần thơ đánh giặc đầy xúc động. Vì chạy loạn ông phải đi tị địa ở nhiều nơi. Nhưng ở đâu ông cũng nêu cao ngọn cờ khí tiết. Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu không thể quên nhắc đến những vần thơ ông sáng tác khi Pháp xâm lược như Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh, văn tế Trương Định, thơ điếu Trương Định, Ngư tiều y thuật ứng đáp,…

Đôi nét về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử hào hùng đặc biệt quan trọng. Năm 1859, Pháp tấn công Gia Định. Nhân dân Nam Bộ đã dũng cảm đứng lên chống giặc. vào tối 14 tháng 12 năm 1861, trận Cần Giuộc đã gây ra nhiều tổn thất cho giặc nhưng cuối cùng quan ta cũng thất bại. Tuần phủ Gia Định đã nhờ Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế để thổ lộ sự thương cảm so với nhân dân đã ngã xuống.

Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

Toàn cảnh thời đại và sự lựa chọn của những người dân nghĩa sĩ

Mở đầu bài văn tế, tác giả đã tái hiện lại một thời đại đau thương nhưng hào hùng của dân tộc bản địa. Hai tiếng “Hỡi ôi!” vang lên trong tác phẩm một cách thống thiết. Đó cũng đây chính là tiếng khóc của nhà thơ mù Đình Chiều so với nghĩa sĩ, là tiếng nấc đau thương cho thế nước hiểm nghèo…

Cuộc chiến tranh phát triển mạnh từ khi “súng giặc đất rền”. Tiếng súng vang lên, cuộc chiến tranh phát triển mạnh nhân dân phải chịu cảnh lầm than mà giai cấp chính trị đương thời vẫn chưa tồn tại tín hiệu tích cực nào. Nỗi niềm lầm than, tiếng kêu của nhân dân chỉ có “trời tỏ” mà thôi. Chính vì vậy nhân dân phải quyết định. Một là im lặng tiếp tục cam chịu nỗi nhục mất nước. Hai là đứng lên chống giặc dù cơ hội chiến thắng mong manh. Cuối cùng, người dân đã lựa chọn đứng lên chống giặc bằng tất cả tình yêu nước mãnh liệt, lòng dũng cảm. Nguyễn Đình Chiểu đã ngợi ca sự lựa chọn đó.

Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc, ta thấy tác giả đã thay họ nói lên lí do sự lựa chọn một cách chất phác nhất. Họ đã từ bỏ cuộc sống bình thường trong giây phút đất nước bị xâm lăng từ bỏ sự im lặng cam chịu mà lựa chọn giây phút đứng lên chống giặc – “Mười năm công vỡ ruộng chưa ắt còn danh phất như phao/ Một trận nghĩa đánh tây tuy là mất tiếng vang như mõ”. Đó cũng đây chính là điều mà ông cảm mến những người dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Nhắc đến nhân dân, họ thường hiện lên với những cảnh lầm than, là nạn nhân của những bất công xã hội, luôn tồi tệ hơn trong mọi trường hợp tuy nhiên với Nguyễn Đình Chiểu, ta thấy người nông dân ấy hiện lên thật dữ thế chủ động. Họ ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình so với đất nước. Từ tồi tệ hơn sang dữ thế chủ động, từ tự phát sang tự giác.

Nguồn gốc xuất thân của những người dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc sẽ thấy người nghĩa sĩ vốn xuất thân từ “dân ấp, dân lân”. Nghĩa là họ là những người dân nông dân hiền lành chất phác suốt bán mặt cho đất bán sườn lưng cho trời nhưng. Công việc của họ chỉ là “chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ”, “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” hay “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Công việc của họ chỉ xoay quanh việc đồng áng. Vất vả quanh năm làm lụng nhưng cái nghèo luôn ám ảnh thường trực trong suy nghĩ.

Cuộc sống của họ mỗi ngày cũng đều như vậy mà nối tiếp nhau cho đến lúc có giặc xâm lược. Họ hoàn toàn xa lạ với binh đao “chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung”, “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt trước đó chưa từng ngó”. Đao kiếm vốn xa lạ với cuộc sống bình yên thường nhật của người nông dân. Nguyễn Đình Chiểu nêu ra xuất thân của người nông dân nhằm cho tất cả những người đọc thấy được sự lựa chọn cùng bất đắc dĩ của những người dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Cảm nhận hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc sẽ thấy người nông dân hiền lành chất phác nay lại phải đứng lên chống lại ngoại xâm. Họ không có gì trong tay nhưng vẫn sẵn sàng đứng lên bảo vệ đất nước bằng tất cả lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước nồng nàn quật cường.

Tình cảm và sự nhận thức của những người dân nông dân nghĩa sĩ

Tâm trạng của người nghĩa sĩ bắt đầu với việc chờ đón “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Họ chờ đón điều gì? Những người dân nông dân ấy đang đợi quân lính triều đình đứng ra bảo vệ cuộc sống của họ chăng? Hay chờ đón một lời phát động hiệu triệu đi đánh giặc từ triều đình? Có lẽ cả hai….

Sự sốt ruột, hồi hộp của người dân cũng cho thấy tấm lòng của họ với đất nước, lo lắng cho vận mệnh dân tộc bản địa. Nhưng họ chờ mãi mà nào có thấy tin tức gì. Từ chờ đón họ đã chuyển sang căm phẫn. Họ căm phẫn ai? Căm phẫn những kẻ xâm lược đang giày xéo đất đai tổ tiên, đẩy họ và những người dân dân khác vào tình cảnh khốn cùng. Sự căm phẫn ấy được thể hiện qua ước muốn mạnh mẽ “muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ”.

Họ không chỉ nhận ra mối nguy hại so với vận mệnh đất nước mà còn nhận rõ bản chất của kẻ thù. Đó là những kẻ “chém rắn đuổi hươu, treo dê bán chó”. Chúng vào nước ta không có ý tốt. Tất cả những gì chúng làm điều chỉ nhằm mục tiêu thôn tính nước ta, muốn biến nước ta thành thuộc địa. Từ nhận thức đúng đắn về kẻ thù họ đã nhận được thức đúng đắn về vai trò trách nhiệm của họ với đất nước.

Từ nhận thức đó, họ đã đi đến quyết tâm, biến quyết tâm ấy thành hành động “xin ra sức đoạn kình, dốc ra tay bộ hổ”. Nhưng khi cảm nhận hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc, ta thấy mục đích của hành động ấy vẫn còn đang cao quý hơn. Họ chiến đấu không phải để lưu danh sử sách, để được đeo ấn phong hầu mà người ta chiến đấu vì “mến nghĩa”. Vì cái nghĩa với mọi người với đất nước.. Nói theo một cách diễn biến tình cảm cũng như quá trình biến nhận thức ấy đã trở thành hành động xuất phát từ sự ý thức của chính bản thân mình, của tinh thần đoàn kết, của truyền thống chống ngoại xâm. Chính vì điều đó ta càng thêm yêu quý và tôn trọng những người dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Hoàn cảnh chiến đấu và vẻ đẹp hào hùng của những người dân nghĩa sĩ

Chính vì “mến nghĩa nên làm quân chiêu tập” nên họ không có bất kỳ trang bị vũ khí chuyên được sự dụng nào. Những trang bị của họ đây chính là lấy từ cuộc sống sinh hoạt lao động thường nhật. Họ ra chiến trận đối đầu với quân giặc man rợ tàn ác được vũ trang đầy đủ. Còn người nghĩa sĩ Cần Giuộc thì sao? Họ chỉ có “một manh áo vải”, “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “lưỡi dao phay”. Chỉ bấy nhiêu đó thôi mà người ta lấn sân vào trận chiến.

Cảm nhận hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc sẽ thấy ngay từ trên đầu họ đã xác định và ý thức được đây là một trận chiến không tương sức. Nhưng vì sao họ vẫn xông lên trước kẻ thù đông quần đảo, được trang bị vũ khí tân tiến. Nhưng câu trả lười rất đơn giản đó đây chính là lòng yêu nước. Chính tình yêu nước đã kết nối những con người ấy lại với nhau, tạo nên động lực sức mạnh để họ chiến đấu hết mình, dù biết cái chết đang cận kề…

Chính vì tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” ấy, họ chiến đấu với một khí thế mạnh mẽ chưa bao giờ thấy. Những người dân nghĩa sĩ xông lên mạnh mẽ như vũ bão, hiên ngang tung hoành. Họ không hề sợ sệt, không nao núng rơi vào thế tồi tệ hơn mà ngược lại. Những con người với vũ khí đơn sơ này lại dữ thế chủ động làm chủ chiến trường, thỏa sức tung hoành cứ nhằm kẻ địch mà tiến tới.

Hàng loạt những động từ mạnh nối tiếp nhau hiện ra “đạp, lướt, xô, xông, đâm, hè, ó”. Việc sử dụng những động từ ấy đã diễn tả được khung cảnh nơi chiến trận, đồng thời còn tái hiện được nhịp điệu căng thẳng, dồn dập của chiến trường. Sát đó, tác giả còn sử dụng văn pháp tương phản để khắc họa trận chiến này. Một bên là quân giặc, một bên là người nghĩa sĩ. Có thể xét về sức mạnh, vũ khí, lực lượng ta không bằng, nhưng xét về tinh thần thì nghĩa sĩ Cần Giuộc lại hoàn toàn áp quần đảo.

Việc khắc họa chân dung kẻ địch đã làm nổi bật lên được sĩ khí của quân ta, nổi bật lên được tinh thần chiến đấu không khoan nhượng. Họ chiến đấu hết mình và đạt được những thắng lợi “chém rớt đầu quan hai nọ”, “đốt xong nhà dạy đạo kia”. Tuy những thắng lợi ấy có vẻ khiêm tốn, nhỏ bé nhưng nếu kê trong hoàn cảnh chiến đấu của những người dân nghĩa sĩ nông dân bình dị không có vũ khí chiến đấu tự phát thì đây là một chiến công vang dội.

Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc để thấy được họ từ những người dân nông dân hiền lành chân lấm tay bùn mà vì hoàn cảnh lịch sử hào hùng họ phải đứng lên chống giặc bằng vũ khí thô sơ. Trong tất cả mọi thứ, họ vẫn giữ trong mình được tình yêu và ý thức trách nhiệm với đất nước. Không cần hô hào, không cần quy cũ họ cứ thế mà chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Tinh thần chiến đấu và sự hi sinh anh dũng của những người dân nghĩa sĩ

Thế nhưng như đã tiên liệu, trận đấu không cân sức ấy cũng đến kết quả cuối cùng. Dù có mạnh mẽ quyết tâm đến đâu, với cày cuốc, dao phay không thể nào đánh lại súng ống của giặc. những người dân nghĩa sĩ cứ thế mà ngã xuống dần. Giọng điệu bài văn tế cũng từ đây mà lạc hẳn. Không còn hào sảng như khi miêu tả chiến công mà thay vào đó là một sự đau đớn…

Hàng loạt các địa danh được nêu ra – sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tông Thạnh. Đây là những địa danh quen thuộc gắn liền với những người dân nghĩa sĩ Cần Giuộc. Và trải dài theo sự rộng mở của không gian còn là việc tiếc thương vô hạn của tác giả cũng như của mọi người giành riêng cho những người dân nghĩa sĩ. Cả đất trời dường như cũng thương tiếc. Họ ra đi sót lại bao ước mơ dang dở, họ ra đi khi chưa thấy được đất nước hòa bình. Và họ ra đi còn để lại bao điều chưa nói, những người dân thân còn chưa kịp Chào thân ái. Họ đã hi sinh vì đất nước như vậy. Cái chết ấy thật đáng quý, tinh thần ấy thật đáng tôn thờ…

Khi phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc, ta thấy họ có thể mất đi nhưng họ sẽ sống mãi trong thâm tâm những người dân dân nước Việt như một câu thơ của Nguyễn Du “thác là thể phách còn là một tinh anh”. Tác giả đã thay những người dân nghĩa sĩ ấy nói lên quan niệm sống của mình “thà thách mà đặng câu địch khái về theo tổ phụ cũng vinh”. Giản dị và mộc mạc nhưng họ trở thành những minh chứng kịch sử tiêu biểu nhất cho tinh thần chết vinh còn hơn sống nhục.

Nếu họ im lặng chấp thuận đồng ý cam chịu thì họ sẽ tiếp tục sống những ngày tháng bình thường nhưng nỗi nhục mất nước chỉ có thể rửa bằng máu ấy đã khiến họ lựa chọn. Dù biết sẽ chết nhưng họ vẫn mạnh mẽ hiên ngang chói lọi trong ánh sáng vinh quang đến tận giây phút cuối cùng. Bởi lẽ họ ý thức được hành động của mình, thấm nhuần lòng yêu nước đến từng hơi thở. Sống vì nước chết cũng vì nước.

Nhìn nhận tác phẩm khi cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng như cảm nhận hình tượng người nông dân nghĩa sĩ, ta thấy người nghĩa sĩ hiện lên không chỉ thể hiện lòng yêu nước thâm thúy mà còn là một lời tố cáo đanh thép tội ác của bọn giặc man rợ đã khiến cho những người dân dân nghèo mất đi cuộc sống bình yên vốn có. Cuộc chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống của họ àm còn cướp đi người cha, người chồng, người con của gia đình. Tuy hi sinh nhưng lòng nhiệt thành của họ với cuộc đời vẫn còn mãi. Họ trở thành những bó đuốc thắp sáng và soi rọi niềm tin, tinh thần cho tất cả dân tộc bản địa.

Kết bài: Hình tượng người nông dân lần đầu tiên đi vào văn học với những trang viết đầy xúc động. Họ không chỉ đơn thuần là nạn nhân của lịch sử hào hùng mà cũng góp phần vào sự đổi thay của lịch sử hào hùng thời đại, của vận mệnh đất nước. Có thể họ chỉ là những người dân nông dân bình dị nhưng chính họ lại đóng vai trò quan trọng. Mượn một ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm để nói về những người dân nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

“Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không người nào nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước…”

(Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)

Dàn ý hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

Từ dàn ý hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc sẽ khiến cho bạn tìm hiểu và cảm nhận tác phẩm một cách cụ thể hơn.

Mở bài cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

  • Giới thiệu đôi nét về Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
  • Đề cập đến vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Thân bài phân tích hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc trong tác phẩm

  • Tóm tắt về toàn cảnh thời đại cùng với việc lựa chọn của người nông dân nghĩa sĩ.
  • Nêu nguồn gốc xuất thân của những người dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.
  • Nhận thức, lòng căm thù giặc cao độ và tình cảm yêu nước của người nghĩa sĩ.
  • Hoàn cảnh chiến đấu cùng vẻ đẹp của việc hào hùng ở những người dân nghĩa sĩ.
  • Tinh thần chiến đấu quả cảm và sự hi sinh anh dũng của người nghĩa sĩ Cần Giuộc.
  • Nhận xét và đánh giá và nhận định về tác phẩm khi cảm nhận hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Kết bài phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc

  • Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ cùng ý nghĩa của tác phẩm.
  • Tóm tắt những vẻ đẹp của hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc.

Có thể thấy, cảm xúc chủ đạo của bài Văn tế đây chính là những cảm xúc bi tráng kết phù hợp với âm điệu sôi sục và dồn dập. Thẩm mỹ đối trong tác phẩm đã phát huy hiệu quả rất tốt của nó. Tất cả đã hợp thành một âm hưởng chiến trận hào hùng và phấn khích của một thiên anh hùng ca tuyệt diệu được thể hiện trọn vẹn trong bài Văn tế của Nguyễn Đình Chiểu. Người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc cứ như vậy đã trở thành tấm gương về tinh thần dũng cảm, lòng yêu nước thâm thúy cho những thế hệ sau tiếp nối.

Hy vọng bài phân tích trên đây của Bankstore đã cung cấp cho bạn những ý văn hay về đề tài “cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Chúc bạn luôn học tập tốt!.

Xem thêm:

  • Phân tích Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương – Ngữ Văn 11
  • Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương – Văn học 11
  • Phân tích bài thơ Thu điếu – Phân tích bài thơ Câu cá ngày thu

 

Nguyễn Thế Hoàng: Là một người đam mê tìm hiểu về kinh doanh, tài chính, ngân hàng, chuyên hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp về các thủ tục pháp lý, cách thành lập công ty, làm báo cáo thuế, bảo hiểm.