X
    Categories: Giáo Dục

Cảm nhận về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Ngữ Văn 9

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy để thấy ánh trăng ở đây không chỉ là một hình ảnh cụ thể của đất trời mà còn là khuôn mặt cho một quá khứ đẹp đẽ, là mối liên hệ giữa tâm tình riêng và ý nghĩa rộng lớn. Sát gần đó, bài thơ còn là một một lần “giật mình” của chính tác giả và cũng là lời thức tỉnh với bao người ở cuộc sống tân tiến. Trong nội dung bài viết sau, hãy cùng Bankstore tìm hiểu, cảm nhận và phân tích bài thơ Ánh trăng!

Mở bài: Cuộc chiến tranh đã qua đi, con người bắt đầu sống hòa nhập và xây dựng cuộc sống mới. Nói theo cách khác bấy nhiêu năm cuộc chiến tranh đi qua đã đủ để xem nhận và thẩm định trọn vẹn sự thiêng liêng của hai tiếng “hòa bình”. Thế nhưng ở cuộc sống yên bình thì vẫn diễn ra những cuộc đấu âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt bên trong mỗi con người. Đại chiến không có súng đạn, không có máu đỏ ấy nhưng lại trải dài trải dài… Đó là cuộc đấu của con người để vô hiệu đi phần xấu phần “con” tiềm ẩn để vươn đến cái đẹp, vươn đến chân thiện mĩ trong cuộc sống. Và “Ánh trăng” của Nguyễn Duy là một minh chứng rõ nét nhất cho cuộc đấu khốc liệt ấy trong nội tâm sâu thẳm của mỗi con người. Cùng phân tích bài thơ Ánh trăng để cảm nhận nội dung thâm thúy của tác phẩm.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Ngữ văn lớp 9 – cô giáo Chử Thu Trang


Bài giảng: Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Bài học kinh nghiệm nằm trong kiến thức ngữ văn lớp 9

Giáo viên giảng dạy: cô giáo Chử Thu Trang

Bản quyền video thuộc Trung tâm Dạy tốt

Subcribe kênh để theo dõi những bài giảng tiên tiến nhất của Dạy tốt nhé các em: https://goo.gl/FtJtUI

Facebook của Trung tâm Dạy tốt: https://www.facebook.com/daytot.vn/

Xem thêm các tài liệu ôn thi vào lớp 10 MIỄN PHÍ tại: https://thivao10.net/

Giới thiệu Nguyễn Duy và bài thơ Ánh trăng

Trước lúc tìm hiểu và phân tích bài thơ Ánh trăng, tất cả chúng ta cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Tìm hiểu về nhà thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh vào năm 1948 ở Thanh Hóa. Ông có một tuổi thơ lam lũ vất vả phải sống cùng với bà. Năm 1965, ông nhập ngũ và có mặt tại những chiến trường ác liệt nhất như Khe Sanh, đường chín Nam Lào. Sau đó, ông học khoa Ngữ Văn tại trường ĐH Tổng Hợp TP Hà Nội.

Từ thời điểm năm 1977, ông là thay mặt thường trú của báo Văn nghệ phía nam – thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Duy sáng tác thơ từ rất sớm. Thơ ông luôn có sự kết hợp hài hòa nhuần nhị giữa chất trữ tình và chất thế sự, có phần ngang tàng nhưng vẫn nhiều chiêm nghiệm suy ngẫm. Thơ Nguyễn Duy có chút dung dị, hồn nhiên và trong sáng; ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ sáng tạo, gợi cảm và rất đẹp, một vẻ đẹp chân quê.

Về sau, cảm xúc trữ tình trong thơ Nguyễn Duy ít nhiều phen sắc tố triết lí khá thâm trầm và đầy ấn tượng. Vào năm 1973, nhà thơ Nguyễn Duy được tặng giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ. Một số bài thơ đặc sắc và tiêu biểu cho phong cách thơ của tác giả là “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”, “Giọt nước mắt và nụ cười”, “Khung trời vuông”…

Đôi nét về bài thơ Ánh trăng

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy tác phẩm này mang đậm dấu ấn thơ Nguyễn Duy, được in trong tập thơ cùng tên và được sáng tác năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ, mang bóng vía của một mẩu chuyện được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến tân tiến, nhưng quá khứ ấy được hồi cố lại trong cái nhìn của hiện tại. Dòng cảm xúc trữ tình của nhà thơ cũng theo mạch tự sự mà bộc lộ.

Hình ảnh ánh trăng trong bài thơ vừa là hình ảnh cụ thể vừa mang tính khái quát cao. Ánh trăng so với Nguyễn Duy không chỉ là ánh trăng tuyệt đẹp của thiên nhiên mà đó còn là một ánh trăng của tình nghĩa, ánh trăng của sự việc thức tỉnh. “Ánh trăng” là lời ngợi ca vầng trăng tri kỉ của tuổi thơ, của người lính một thời trận mạc, đồng thời cũng gợi nhắc mọi người nên tìm hiểu sống ân nghĩa thủy chung cũng như giữ trọn những đạo lí tốt đẹp.

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận ra hình tượng này ở những thời điểm khác nhau, đó là ánh trăng của tuổi thơ, ánh trăng trong chiến trận và ánh trăng của thực tại.

Ánh trăng của quá khứ tuổi thơ và cuộc chiến tranh

Nguyễn Duy đã mở đầu bài thơ bằng hình ảnh của ánh trăng trong ký ức tuổi thơ cũng như sự gắn bó sẻ chia cùng con người khi cuộc chiến tranh.

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với biển

hồi cuộc chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỷ”

Hình ảnh vầng trăng dường như được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của tuổi thơ. Hai câu thơ chỉ vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả đầy đủ sự vận động, quá trình trưởng thành của con người. Phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận ra vầng trăng ở những dòng thơ này đã thay mặt đại diện cho thiên nhiên hồn nhiên tươi sáng, là người bạn tri kỷ từ tuổi nhỏ cho tới “Hồi cuộc chiến tranh ở rừng”.

Trong giây phút thoáng qua, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm sống dậy biết bao nhiêu kí ức của tuổi thơ. Đó là những kí ức về trong thời gian tháng gian lao, nhưng hồn nhiên, hình ảnh của thiên nhiên, đất nước bình dị và hiền hậu. Kí ức tuổi thơ của tác giả đẹp như một câu truyện cổ tích cùng bao kỉ niệm ngọt ngào. Ở đó, trăng là người bạn, trăng là tri kỉ, trăng nghĩa tình gắn bó với con người luôn nhớ.

Những bước tiến cứ lớn dần theo bước tiến của đồng, sông, bể. Nhân vật trữ tình cũng thế mà lớn dần. Thời gian cũng cứ thế mà trôi đi. Rồi đến “hồi cuộc chiến tranh”, nhân vật trữ tình đi lính sống và chiến đấu chủ yếu ở núi, rừng. Giữa không gian ấy, tác giả không cô đơn, không cảm thấy lạnh lẽo bởi có sự xuất hiện của ánh trăng. Phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy dù ở bất kì thời gian nào, bất kì không gian nào, vầng trăng cũng gắn bó cùng con người.

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy hình tượng này như tô điểm thêm vào cho vẻ đẹp của thiên nhiên, dịu dàng đi vào tâm hồn nhà thơ. Ánh trăng xuất hiện trong những đêm đứng gác:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

(Đồng chí – Chính Hữu)

Nhưng đêm trung thu trăng rằm phá cỗ:

“Ngày thu của em

Rước đèn họp bạn

Hội rằm tháng tám

Chị Hằng xuống xem.”

(Mùa thi của em – Quang Huy)

Hay những đêm trăng thơ mộng của tình yêu

“Đêm qua trăng sáng làu làu

Anh đi múc nước để hầu tưới cây

Tình cờ phát giác em đây

Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần”

(Ca dao)

Quê nhà của ký ức tuổi thơ ấy tuy khó khăn thiếu thốn đủ điều nhưng vẫn bừng lên tình nghĩa với vầng trăng. Sự gắn bó ấy đã được đắp xây qua bao thời gian.

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây xanh

ngỡ luôn nhớ

cái vầng trăng tình nghĩa”

Từ “trần trụi” cho ta cảm giác giữa vầng trăng và con người dường như không có bất kỳ rào cản nào. Con người và thiên nhiên như đã hòa làm một. Con người trong trong thời gian tháng ấy sống vô tư vô lo. Điều này được thể hiện rõ nét qua cách so sánh “hồn nhiên như cây xanh”.

Lúc ấy tác giả ngỡ như “luôn nhớ” được nghĩa tình sâu nặng ấy. Không đơn thuần nói về quá khứ về kỷ niệm nghĩa tình mà còn ẩn chứa trong đó thái độ nghiêm túc xem xét pha lẫn nỗi ăn năn day dứt trong trái tim. Phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy có biết bao nhiêu cảm xúc trong từ “ngỡ” ấy. Đó cũng là một điểm nhấn, một tín hiệu đặc biệt quan trọng. Nó gợi cho ta biết bao suy nghĩ về những điều chưa nói. Từ “ngỡ” như một lối rẽ đưa ý thơ theo phía khác. Hóa ra tất cả mọi thứ chỉ với trong ký ức, đang trôi dần trong quá khứ xa xăm.

Phân tích bài thơ Ánh trăng qua hình tượng ở thực tại

Cuộc chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại cũng như bao người lính khác, nhân vật trữ tình cũng trở về cuộc sống thường nhật của mình. Nhưng không phải là về với sông với bể với vầng trăng nghĩa tình mà là trở về với thành phố tấp nập đông vui:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”

“Ánh điện, cửa gương” nơi thành phố phồn hoa đã vô tình làm cho vầng trăng tình nghĩa năm nào bỗng trở thành kẻ xa lạ. Hình ảnh nhân hóa độc đáo trong khổ thơ gợi cho những người đọc suy nghĩ. Vì sao “vầng trăng đi qua ngõ” nhưng không ghé vào thăm người bạn xưa?

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc rất đơn giản dàng nhận thấy chính vầng trăng cũng muốn ghé vào thăm, nhưng người bạn năm nào giờ đây đã thay đổi, lạnh lùng, hững hờ nên vầng trăng chỉ đành “như người dưng qua đường”. Ánh trăng bị lu mờ bởi ánh đèn chiếu rọi. Mới ngày nào gắn bó giờ đây chỉ với là “người dưng” không chút quen biết, không chút nhớ nhung dường như trước đó chưa từng bên cạnh nhau.

Nguyễn Duy đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng trong quá khứ và vầng trăng của hiện tại. Phải chăng cuộc sống hiện nghi hiện tại đã và đang làm cho tâm hồn mỗi tất cả chúng ta trở nên lạnh lùng hơn, đang dập tắt dần ngọn lửa tình nghĩa trong trái tim mỗi con người, đang biến những người dân bạn thủy chung năm xưa – trong đó có ta, trở thành kẻ vong ơn bội nghĩa.

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn-đinh tối om

vội bật tung hành lang cửa số

đột ngột vầng trăng tròn”

Cuộc sống đầy những biến cố ngẫu nhiên, bất trắc. Và trong những biến cố bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ càng thêm sáng tỏ và soi rõ nỗi lòng con người. Thành phố bất ngờ mất điện. Không gian căn phòng chìm dần trong bóng tối bủa vây. Và chính lúc đó, vầng trăng tròn lung linh dịu dàng hiện ra. Cùng với ánh trăng là những kỷ niệm rất lâu rồi chợt ùa về đầy ắp trong tâm trí.

Các từ “thình lình”, “bất ngờ”, “vội” cho thấy được sự ngỡ ngàng đầy sững sờ của một cuộc tri ngộ không ngờ đến. Không chỉ là việc thay thế cho ánh sáng đèn điện mà ánh trăng còn là việc thức tỉnh và gợi nhớ quá khứ đã qua. Phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận ra nhà thơ đang bổi hổi khi nhớ về quá khứ, nhớ lại quãng thời gian êm đềm được sống chan hòa giữa thiên nhiên bình dị, được gắn bó gần gũi hòa nhập vào khung cảnh thiên nhiên, được chung nhịp thở với đồng, bể, sông, rừng.

Hành động “vội bật tung hành lang cửa số” chứa đựng sự âu lo, thảng thốt. Vầng trăng tròn đâu phải chỉ vì đèn điện tắt. Trong quá trình phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy hình tượng này cũng như trong thời gian tháng ấy không hề mất đi chỉ có con người mãi chìm đắm trong ánh sáng đèn điện hôm nay mà lãng quên đi người bạn cố tri.

Chính vì vậy “đột ngột vầng trăng tròn” như một biến có một khám phá đầy bất ngờ – một bất ngờ quen thuộc đầy chua chát. Trong khổ thơ này, đó là một chuỗi cái biến cố hành động nối tiếp nhau. Nhưng nhờ những biến cố ấy, nhân vật trữ tình có cơ hội gác lại cuộc sống hiện tại để xem nhận lại quá khứ và để thức tỉnh. Miền ký ức xa xăm hiện về ngày càng rõ nét trong tâm trí nhà thơ.

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như thể đồng là bể

như thể sông là rừng”

Đó là một chiếc nhìn đầy áy náy xót xa “ngửa mặt lên nhìn mặt”. Con người đang đối diện cùng trăng, mặt đối mặt. Đối diện với mặt trăng hiền từ, nhân hậu của quá khứ nhưng tất cả chỉ lặng im. Mặt trăng im lặng nhìn con người thay đổi, nhìn con người trong giây phút tỉnh ngộ. Con người im lặng vì bất ngờ, vì xúc động và cũng bởi xấu hổ trước ánh trăng.

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận thấy đây là một sự ngạc nhiên pha lẫn nỗi nghẹn ngào xúc động. Một cuộc hồi sinh từ kỷ niệm quá khứ êm đềm thơ mộng xen lẫn một nỗi dày vò, ray rứt của lương tâm trong thời khắc hiện tại. Mọi cảm xúc ấy được gói gọn trong hai từ “rưng rưng”. Đó là lúc tâm hồn quặn thắt, cảm xúc dâng cao trực trào nước mắt vì xót xa, vì ăn năn.

Vầng trăng như đã nâng nhà thơ trở về với những phút giây đầy cảm xúc của quá khứ. Thì ra ranh giới giữa nhớ và quên thật mong manh. Những cảm xúc ấy dường như vẫn còn đó, chìm sâu vào tiềm thức của con người chỉ có một sự gợi nhắc là sẽ tiến hành thức tỉnh và trở về nguyên vẹn.

Phải chăng con người khi gạt ngoài những tiện nghi vật chất thì mới có thể để ý đến tình nghĩa năm xưa. Tất cả như những đợt sóng tâm trạng đang đổ dồn về phía nhà thơ. Để rồi khi phân tích bài thơ Ánh trăng, tác phẩm này đã kết thúc bằng một lời độc thoại nội tâm.

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Cho dù con người dân có vô tình nhưng trăng vẫn thế, vẫn “cứ tròn vành vạnh”. “Cứ tròn” nghĩa là đã tròn, vẫn tròn và đang tròn. “Tròn vành vạnh” thể hiện trạng thái tươi đẹp tuyệt vời nhất của vầng trăng. Vượt qua thời gian đằng đẵng không gian mênh mông, vượt qua tất cả sự nhớ quên của con người, vầng trăng năm xưa không hề hao gầy vơi khuyết mà vẫn tiếp tục tròn vẹn nghĩa tình.

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, người đọc nhận thấy tác giả Nguyễn Duy như muốn nhắc đến một triết lý sâu xa: Quá khứ mãi mãi vẫn ở này vẫn vẹn nguyên tươi đẹp. Con người dân có thể lãng quên tất cả nhưng quá khứ vẫn luôn như vậy, ở đó dõi theo con người. Dù con người dân có thể quên đi quá khứ – nhưng không thể xóa đi quá khứ cùng biết bao hồi ức tháng năm… Quá khứ lặng yên không lên tiếng phán quyết con người. Nhưng chính vì sự im lặng, chính cái “im phăng phắc” đó của vầng trăng lại là lời nhắc nhở nghiêm khắc nhất “đủ cho ta giật mình”.

Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy cái giật mình ấy không phải ngẫu nhiên. Sự giật mình đôi khi làm người ta sợ hãi nhưng cũng sẽ có những cái giật mình khiến con người thức tỉnh. Cái giật mình làm sống dậy bao kỷ niệm để con người tự vấn lương tâm. Không có bất kỳ tòa án nào xét xử sự bội bạc của con người chỉ có duy nhất toà án của lương tâm.

Chính vì vậy, cái giật mình ấy là cái giật mình sâu thẳm của lương tâm con người. Tuy muộn màng nhưng điều đó rất đáng để quý, giúp con người thanh lọc tâm hồn. Khi phân tích bài thơ Ánh trăng, ta thấy ý nghĩa triết lý thâm thúy của bài thơ nằm ở lời nhắc về thái độ của con người so với trong thời gian tháng quá khứ gian lao tình nghĩa, so với thiên nhiên, so với đất nước bình dị.

Định hình tác phẩm khi phân tích bài thơ Ánh trăng

Bài thơ Ánh trăng đã được Nguyễn Duy viết vào năm 1978 khi đất nước đã thoát khỏi đạn bom, con người sống trong cảnh hòa bình yên ổn. Nhà thơ đứng giữa hôm nay và suy ngẫm về một thời đã qua. Tiếng thơ của ông cũng là lời nhắc nhở, cảnh tỉnh so với tất cả chúng ta.

Thực tế đã chứng minh, không phải ai trong tất cả chúng ta trong cuộc sống yên vui hôm nay còn nhớ về quá khứ gian nan nhưng anh dũng, về những nghĩa tình của một thời tưởng luôn nhớ. Như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng day dứt “Đôi khi sống trong tia nắng chan hòa, người ta rất đơn giản quên đi cơn mộng dữ đêm qua”.

Kết bài: Phân tích bài thơ Ánh trăng đã chỉ rõ cho những người đọc thấy rằng tác phẩm này sẽ không chỉ là những chiêm nghiệm thâm thúy về thái độ và tình cảm của con người so với những hi sinh mất mát đã qua của thời cuộc chiến tranh, mà còn khơi gợi tình cảm con người về cội nguồn, về những người dân đã khuất. Sâu xa hơn, bài thơ còn là một lời nhắc mỗi con người về lẽ sống thủy chung ân tình. “Ánh trăng” chính vì thế nằm trong mạch cảm xúc “uống nước nhớ nguồn”, gợi lên đạo lý sống ân tình đầy nhân đạo. Đó cũng là một nét đẹp trong bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc bản địa góp phần hình thành truyền thống tốt đẹp của mỗi con người Việt Nam.

Dàn ý phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Mở bài phân tích bài thơ Ánh trăng

  • Cách 1: Đi từ việc giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy và tác phẩm Ánh trăng.
  • Cách 2: Cuộc sống tân tiến cuốn con người sống gấp quên đi những nghĩa tình xưa. Từ đó đề cập đến nội dung tác phẩm.

Thân bài phân tích bài thơ Ánh trăng

  • Ánh trăng trong thời điểm quá khứ, ở tuổi thơ và trong giai đoạn cuộc chiến tranh.
  • Ánh trăng trở về với cuộc sống hiện tại, cuộc sống hòa bình.

Kết bài phân tích bài thơ Ánh trăng

  • Nhà thơ Nguyễn Duy khai thác tinh tế hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật ánh trăng một cách độc đáo. Ánh trăng đã mang đến mẩu chuyện về lẽ sống ân tình và thủy chung.
  • Tác phẩm đã gợi lên trong trái tim tất cả chúng ta nhiều suy ngẫm về kiểu cách sống và cách làm người, cũng như thể lối sống ân tình ở đời chỉ qua những câu thơ thấm thía, sâu nặng.

Nguyễn Bùi Vợi đã từng nhận định về tác phẩm “Bài thơ nói về ánh trăng mà nói chuyện đời, chuyện tình nghĩa”. Với ý nghĩa thâm thúy và nhân văn, tác phẩm đã mượn đề tài thiên nhiên để nói tới suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà thơ về con người và cuộc đời. Hy vọng thông qua chủ đề phân tích bài thơ Ánh trăng, nội dung bài viết trên đây đã cung cấp cho bạn những kiến thức hữu ích phục vụ cho quá trình học tập. Chúc bạn luôn học tốt!

Xem thêm >>> Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên – Ngữ Văn lớp 9

Xem thêm >>> Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh – Ngữ Văn Lớp 9

Xem thêm >>> Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu – Ngữ Văn Lớp 9

Xem thêm >>> Phân tích bài thơ Căn bếp lửa của Bằng Việt – Ngữ Văn Lớp 9

 

Nguyễn Thế Hoàng: Là một người đam mê tìm hiểu về kinh doanh, tài chính, ngân hàng, chuyên hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp về các thủ tục pháp lý, cách thành lập công ty, làm báo cáo thuế, bảo hiểm.